Date: 2017-06-26 20:02 GMT-04:00
Subject: VNTB 27/6

http://www.ijavn.org/

VNTB- Nợ xấu và sân golf: ‘Mở miệng’ một kỳ họp quốc hội

Phạm Chí Dũng

VOA

Sân bay Tân Sơn Nhất.

Sân bay Tân Sơn Nhất.

Kỳ họp vào tháng 5 – 6 của Quốc hội Việt Nam đã bất chợt ghi một dấu ấn đáng ngạc nhiên so với rất nhiều kỳ họp trước đây cũng của cơ quan dân cử này – xét trên phương diện “mở miệng”.
Hai “thành tựu mở miệng” là nợ xấu quốc gia và sân golf Tân Sơn Nhất.
Nợ xấu
Chưa bao giờ trong lịch sử tồn tại của mình, Quốc hội Việt Nam phải nhận một trọng trách lớn đến như vậy khi được Chính phủ tự nguyện “nhường phần” trách nhiệm xử lý nợ xấu.
Cũng chưa bao giờ giới đại diện nửa đại biểu nửa nghị sĩ trong nghị trường quốc hội lại “bừng bừng khí thế” như lúc này, khi họ lần đầu tiên cảm thấy sức ép trách nhiệm thực sự đặt lên vai mình.
Lần đầu tiên số đại biểu chịu “mở miệng” về nợ xấu nhiều đến mức báo chí đã đúc kết “10 phát ngôn bức xúc về nợ xấu”, dù 10 con người đó mới chỉ chiếm có 2% trong tổng số gần 500 tâm trạng mà dư luận vẫn mỉa mai là “nghị gật”.
Phải nói, nói thay cho quá khứ phải im lặng trước “cường quyền”.
Ít nhất, Quốc hội sẽ phải ban hành một bản nghị quyết về xử lý nợ xấu. Nhưng nghị quyết không thôi chưa đủ, và sẽ không giống với vô số nghị quyết khác, mà nghị quyết lần này còn ràng buộc trách nhiệm của Quốc hội vào từng điều khoản. Chính phủ khôn ngoan sẽ căn cứ vào đó mà làm.
Chính phủ lại thật khôn ngoan. Sau thời “phá chưa từng có” của các ông Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Văn Bình, thời Thủ tướng Phúc đã phải lãnh trách nhiệm “đổ vỏ” cho ít nhất 600 ngàn tỷ đồng nợ xấu theo thống kê chắc chắn chưa đầy đủ. Trong hơn một năm kể từ lúc thành lập tân chính phủ của chế độ độc đảng, cho tới giờ tất cả đều thất vọng đến mức vô vọng, nợ xấu không những không giảm đi mà còn đội lên, còn Công ty quản lý tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC) – một doanh nghiệp được đẻ ra từ thời Nguyễn Văn Bình – đã hầu như chẳng làm được gì ngoài chuyện kê biên và luân chuyển nợ xấu trên giấy. Thậm chí 2 ngàn tỷ đồng vốn lưu động mà ngân sách cấp cho VAMC còn không được dùng tới một đồng nào để mua nợ xấu.
Bây giờ, nhiều đại biểu quốc hội phải “lên ruột”.
Vào cuối năm 2014, gần 500 “nghị gật” của Quốc hội đã được nghe Thống đốc Nguyễn Văn Bình lần đầu tiên tiết lộ con số nợ xấu lên đến 500 ngàn tỷ đồng. Còn trước đó, Thống đốc Bình chỉ báo cáo nợ xấu vào khoảng 100 ngàn – 150 ngàn tỷ đồng mà không có bất kỳ cơ sở nào đính kèm. “Biết cho vui, chẳng làm gì được” – một số đại biểu tự cám cảnh. Rồi cũng như một thói quen đã ăn vào não trạng, các đại biểu quốc hội chỉ biết gật gù rồi gật đầu biểu quyết cho một bản nghị quyết chấp nhận con số đó.
Nhưng đến cuối năm 2015 thì tình thế đã cháy bỏng. Khi đó diễn ra chiến dịch “ép nợ xấu về dưới 3%”, được chỉ đạo bởi Nguyễn Tấn Dũng nhằm lấy thành tích trước Đại hội 12. Một lần nữa, Quốc hội của một ủy viên bộ chính trị sắp hết thời là ông Nguyễn Sinh Hùng lại chỉ biết gục gặc. Không ai biết nợ xấu thực là bao nhiêu và cũng chẳng biết nó sẽ gây ra hậu quả lớn đến mức nào.
Điều duy nhất mà Quốc hội làm được vào cuối năm 2015 là phản đối việc dùng ngân sách để giải quyết nợ xấu – một hành động phản đối dũng cảm một cách đáng ngạc nhiên nếu so với thái độ gần như cấm khẩu trước Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Văn Bình vào những năm trước.
Tuy nhiên, câu trả lời cho sự ngạc nhiên trên lại thật đơn giản: ngân sách cuối năm 2015 đã “chỉ còn 45 ngàn tỷ đồng mà không biết chi cho cái gì” – như trần thuật đầy chua chát của bộ trưởng kế hoạch đầu tư khi đó là ông Bùi Quang Vinh.
Không còn bất kỳ khoản kết dư nào, ngân sách dù có muốn đổ ra để giải quyết nợ xấu cũng đành bó tay. Giới đại biểu quốc hội cũng bởi thế đã mạnh miệng hơn một chút.
Còn giờ đây, không nói thì chết. Nợ xấu đã trở nên vô phương cứu chữa, hẳn nhiều dân biểu đã nhận thấy như vậy.
Nhất là khi họ đã nhận ra một sự dối trá vĩ đại trong quá khứ: những con số báo cáo ra Quốc hội, nếu được cộng dồn lại, sẽ cho thấy tổng nợ xấu đã xử lý và chưa xử lý lên tới khoảng 1.200 ngàn tỷ đồng, chiếm đến hơn 40% tổng dư nợ cho vay là hơn 3 triệu tỷ đồng vào giai đoạn năm 2011-2012, gấp đến 10 lần so với tỷ lệ nợ xấu chỉ 4% từ báo cáo của Ngân hàng nhà nước vào thời gian đó!
Sân golf Tân Sơn Nhất
Nhưng trào lưu “mở miệng” bùng nổ và đáng ngạc nhiên hơn cả là vụ “sân golf trong sân bay Tân Sơn Nhất”.
Trước kỳ họp quốc hội tháng 5 – 6 năm 2017, có lẽ nhóm lợi ích sân golf Tân Sơn Nhất và Bộ Quốc phòng khó ngờ về một làn sóng “đấu tố” quyết liệt đến thế từ đại biểu quốc hội đối với sân golf Tân Sơn Nhất được ưu ái từ thời “tướng chữa bệnh” Phùng Qang Thanh.
Còn hơn cả làn sóng “mở miệng” đối với quốc nạn nợ xấu, không biết được tiếp liệu nguồn nhựa sống nào mà con số đại biểu quốc hội gián tiếp lẫn trực tiếp “tố cáo” nhóm lợi ích quân đội chiếm dụng 157 ha của sân bay tân Sơn Nhất trong hàng chục năm trời đã vượt qua cả tỷ lệ 2% tổng số nghị sĩ.
Không chỉ là một ít gương mặt phản biện cũ như chuyên gia Nguyễn Thiện Tống, nhiều chuyên gia khác cũng đã lần đầu tiên lên tiếng về sự đọa đày trên.
Phản ứng từ nhiều tầng lớp xã hội lại kéo theo phản bác của chính giới quân nhân và cựu quân nhân. Thậm chí, báo chí còn cả gan đăng tải kiến nghị của một cựu sĩ quan quân đội là Trung tá Lê Trọng Sành – nguyên Cục phó Cục tác chiến Quân chủng Phòng không không quân – cho rằng “Quân ủy trung ương cần có ý kiến”.
“Quân ủy trung ương” ở đây không ai khác là Bí thư quân ủy Nguyễn Phú Trọng và Phó bí thư quân ủy kiêm bộ trưởng quốc phòng Ngô Xuân Lịch – những nhân vật chưa bao giờ dám lộ diện để hồi âm trước đòi hỏi “trả sân golf về sân bay” của công luận.
Cũng có những nhân vật khác như thể cố ý không chịu lộ diện. Tại kỳ họp quốc hội tháng 5 – 6 năm 2017, hình như Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã không thể “làm chủ tình hình” trước con sóng “mở miệng” của nhiều đại biểu. Duy có điều đáng tiếc, thật đáng tiếc là bà Ngân, trong lúc luôn diện những bộ váy áo đa sắc và đắt tiền, đã chẳng thấy biểu hiện chính kiến nào về quốc nạn nợ xấu lẫn “sân golf trong sân bay”.
Trên phương diện công luận và phát biểu công khai, một nhân vật ủy viên bộ chính trị khác cũng nín tiếng một cách đáng ngạc nhiên là Nguyễn Thiện Nhân – phụ trách khu vực TP.HCM là nơi có “sân golf trong sân bay”. Bất chấp việc tờ báo Tuổi Trẻ – sau một thời gian khá dài chìm lắng – đã như “lên đồng” bằng loạt bài phong phú nhằm phản biện nạn sân golf Tân Sơn Nhất, ông Nhân vẫn giữ tư thế “khép miệng truyền thống” như ông vốn thế ở nhiều kỳ họp quốc hội trước.
Rốt cuộc là “cái gì cũng đến tay thủ tướng” – như than vãn của vài quan chức trước tình trạng gần hết 63 tỉnh thành ngày càng lộ ý đồ muốn bắt ông Nguyễn Xuân Phúc phải chịu trách nhiệm liên đới với những quyết định thuần túy trong thẩm quyền địa phương. Vào lần này, cũng như bà Ngân và ông Nhân khi không chịu lộ diện và chẳng chịu có phát ngôn nào, Thủ tướng Phúc đã “âm thầm” họp thường trực chính phủ để đưa ra một phương án nước đôi: mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất cả về phía Bắc (khu vực sân golf Tân Sơn Nhất ) lẫn phía Nam.
Phía Bắc là khu vực sân golf Tân Sơn Nhất.
Còn “phía Nam” là gì?
Đó là toàn bộ các khu dân cư của các quận Gò Vấp, Phú Nhuận, Tân Bình và cả Công viên Gia Định – một trong hiếm hoi lá phổ xanh cuối cùng của Sài Gòn.
Nhưng đã không thấy một chỉ đạo nào từ Thủ tướng Phúc về truy cứu trách nhiệm đối với Bộ Quốc phòng và những cơ quan liên quan về vụ hợp đồng trái phép xây dựng sân golf Tân Sơn Nhất trong một thời gian rất dài.
Phải chăng Thủ tướng Phúc muốn “đi hàng hai”, vừa không mất lòng Bộ Quốc phòng và Quân ủy trung ương mà ông Nguyễn Phú Trọng là bí thư, cũng không đụng chạm đến nhóm lợi ích quân đội, vừa được tiếng “xử lý sân golf trong sân bay”?
Rõ ràng, phương án dễ nhất là thay vì mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất về phía Nam, Chính phủ hoàn toàn có thể lấy lại 157 ha sân golf Tân Sơn Nhất để làm sân bay mà còn không tốn một đồng ngân sách nào.
Một con số ước tính của giới chuyên gia cho biết nếu mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất về phía Nam, kinh phí giải tỏa đền bù các khu dân cư sẽ lên đến hơn 9 tỷ USD, tương đương hơn 200 ngàn tỷ đồng. Ngân sách tìm đâu ra con số đó, trong lúc “chỉ có” vài chục ngàn tỷ đồng để giải tỏa đền bù ở khu vực dự án sân bay Long Thành ở Đồng Nai mà còn tìm không ra?
Vì sao được “mở miệng”?
Cần nhắc lại, ở nhiều kỳ họp quốc hội trước đây, đặc biệt là kỳ họp quốc hội vào cuối năm 2016 khi sân bay dân sự Tân Sơn Nhất đã “kẹt cả dưới đất lẫn trên trời”, Quốc hội Việt Nam vẫn chỉ chăm chăm bàn đến việc làm sao có tiền để triển khai sân bay Long Thành. Vài ý kiến đại biểu về “sân golf trong sân bay” đã bị mất hút. Còn Chính phủ thì bặt tăm.
Vậy làm sao vào kỳ họp lần này, nhiều đại biểu quốc hội và nhiều tờ báo được “mở miệng”?
Sân golf phải trả về cho sân bay đương nhiên là công bằng và tốt cho xã hội, cho người dân. Nhưng lại chẳng hề tốt cho nhóm lợi ích quân đội và giới quan chức, đại gia ăn theo. Đó là khía cạnh xã hội.
Nhưng một khía cạnh khác cũng có thể thú vị nếu được mổ xẻ: tương quan chính trị.
Việc tìm hiểu những lực lượng chính trị nào đã “bật đèn xanh” cho trào lưu “mở miệng” về “sân golf trong sân bay” có thể dẫn đến vài đánh giá và dự đoán sát thực hơn về biến diễn của chính trường Việt Nam, ít nhất trong nửa cuối năm 2017.

————————-

VNTB- ‘Chỉ tăng thuế môi trường lên 5.000 đồng/lít xăng’: Chiêu trò tăng dần thay vì tăng sốc!
Minh Quân

(VNTB) – Có lẽ bà Kim Ngân đã nhận thức được ý đồ “gắp lửa bỏ tay người” của Chính phủ và các bộ ngành. Trong suốt kỳ họp quốc hội vừa qua, bà Ngân đã không hề hé môi về vụ “còng số 8” đó.

Cho rằng mức tăng thuế môi trường tối đa 8.000 đồng/lít xăng là quá cao, Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam (VINPA) vừa đề nghị tăng thuế môi trường lên 5.000 đồng với mỗi lít xăng.

Cụ thể, VINPA đề nghị mức thuế BVMT với mặt hàng xăng nâng từ 3.000 đồng/lít lên tối đa 5.000 đồng/lít; dầu diesel nâng từ 1.500 đồng/lít lên tối đa 3.000 đồng/lít; nhiên liệu bay từ 3.000 đồng/lít lên 5.000 đồng/lít và dầu madut từ 900 đồng/kg lên tối đa 3.000 đồng/kg.

Lý giải về cơ sở đề xuất mức thuế môi trường như trên, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Phan Thế Ruệ, Chủ tịch VINPA cho rằng với giá dầu thế giới như hiện nay mà thuế BVMT 5.000 đồng/lít thì chỉ chiếm 30% giá thành. Còn nếu thuế lên đến 8.000 đồng/lít thì chiếm tới 50%, và nếu cộng các loại thuế khác khoảng 30% nữa thì thuế chiếm đến gần 100%. “Như thế là không hợp lý về chuyện cơ cấu thuế trong giá” – ông Ruệ nói.

Ông Ruệ cũng cho biết nếu thu thuế BVMT ở mức trần 8.000 đồng/lít thì riêng nguồn thu từ đây là hàng trăm ngàn tỉ đồng. “Đồng ý là ngân sách nhà nước cần phải xử lý trong bối cảnh hụt thu nhưng ưu tiên số 1 phải là xử lý môi trường, số 2 mới là tạo nguồn thu cho nhà nước. Thu ở mức cao quá sẽ gây sốc cho người dân và cả xã hội” – Chủ tịch VINPA nói.

Dường như đã có một sự thay đổi nào đó về quan điểm của “đảng và nhà nước ta” đối với kế hạoch tăng thuế BVMT, khiến ông Phan Thế Ruệ cũng phải “tự chuyển hóa”.

Bởi vào tháng 5/2017 và trước kỳ họp quốc hội, ông Ruệ còn trở nên tai tiếng với phát ngôn “ủng hộ việc tăng thuế BVMT” kèm “nộp thuế BVMT là nghĩa vụ của công dân” – mà đã bị công luận phê phán là một lối nói vô liêm sỉ trước hiện tình dân nghèo ngày càng nghèo, còn các nhóm lợi ích và tham nhũng ngày càng mập phì.

Công luận cũng phản ứng mạnh trước thực tế tăng thu thuế BVMT trong những năm qua nhưng chỉ có khoảng 1/3 số tiền thu được dùng vào việc bảo vệ môi trường, còn 2/3 còn lại không biết “biến” đi đâu.

Giờ đây, khi ông Phan Thế Ruệ “bỗng dưng” giương cao ngọn cờ “bảo vệ môi trường mới là số 1”, có thể hình dung là “đảng và quốc hội ta” đã không thể bỏ qua phản ứng dữ dội của công luận, dù rằng con số 5 tỷ USD sẽ thu được nếu tăng thuế BVMT lên 8 ngàn đồng/lít xăng là quá hấp dẫn trong bối cảnh ngân sách chỉ chực chờ sụp đổ.

Một chi tiết cần chú ý là trong suốt kỳ họp quốc hội tháng 5- 6 năm 2017, đã không có nội dung nào nghị luận về việc tăng thuế BVMT, dù trước đó đã có thông tin vụ việc này được đưa vào nghị trình thảo luận của Quốc hội, thậm chí còn “xướng” rằng Quốc hội có thể tung ra một bản nghị quyết chuyên biệt cho ý đồ hại dân này.

Ý đồ hại dân đó lại là “còng số 8” – một cách mà người dân chua chát ví von về dự thảo 8.000 đồng đánh vào 1 lít xăng.

Từ đầu tháng 4/2017, “còng số 8” đã được phía chính phủ khôn lanh chuyển sang tay người chịu trách nhiệm bỏ phiếu thông qua luật là Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân. Từ công đoạn này trở đi, không phải Bộ Tư Pháp, Bộ Tài Chính, Bộ Công Thương hay Phó Thủ Tướng Vương Ðình Huệ và Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, mà cơ quan “của dân, do dân và vì dân” mới là nơi tập trung mọi tiếng chửi bới oán thán của các tầng lớp bị bần cùng hóa trong một đất nước đang rất gần với cùng tắc biến.

Nhưng có lẽ bà Kim Ngân đã nhận thức được ý đồ “gắp lửa bỏ tay người” của Chính phủ và các bộ ngành. Trong suốt kỳ họp quốc hội vừa qua, bà Ngân đã không hề hé môi về vụ “còng số 8” đó.

Để giờ đây, nhóm lợi ích xăng dầu chỉ còn cách mớm ý “chỉ tăng thuế môi trường lên 5.000 đồng/lít xăng” – một chiêu trò tăng dần thay vì tăng sốc!

————————

VNTB – Những hiểm hoạ Trung Quốc tại Việt Nam đã được ngăn chặn như thế nào?

Lê Anh Hùng (VNTB) Xưa nay, nhiều dự án không hợp lòng dân bị công chúng phản đối mạnh mẽ nhưng rốt cuộc chúng vẫn cứ được triển khai như thể không có chuyện gì xẩy ra với nhà cầm quyền Việt Nam. Vì thế có lẽ ít ai tin một “nhà báo lề dân” lẻ loi như tôi lại có thể góp phần khiến 8 dự án liên quan đến Trung Quốc bị dừng lại – tất cả đều nhờ những bài báo được đăng tải trên VOA. Dưới đây là danh sách cụ thể các dự án đó.

1) Ngày 11/02/2014, VOA đăng bài “Báo động: Người Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Quảng Trị”. Bài báo đưa tin, Cty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam (một công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi hàng đầu Việt Nam, trước đây thuộc C.P. Group của Thái Lan, nhưng đã bị Trung Quốc thâu tóm từ năm 2011) sắp được giao hơn 96ha đất, kéo dài hơn 2km dọc theo bờ biển, gần cảng Cửa Việt, để thực hiện dự án sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Tại thời điểm đó, chủ đầu tư gần như đã thoả thuận xong việc đền bù với chính quyền địa phương và người dân có đất thuộc diện thu hồi. Sau khi bài báo được đăng, người dân địa phương biết là có mấy đoàn từ Hà Nội về tìm hiểu và cuối cùng dự án đã bị huỷ. (Ngày 1/3/2014, trang Nguyentandung.org đăng bài “Trung Quốc đang có âm mưu gì ở Quảng Trị?”, trong đó họ sử dụng cả thông tin lẫn 2 bức ảnh từ bài báo của tôi trên VOA mà không ghi nguồn.)
2) Ngày 20/04/2015, VOA đăng bài “Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân và hiểm hoạ mất nước”. Bài báo cho biết, trong 4 dự án nhà máy nhiệt điện tại Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân thì có đến 3 dự án rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Đặc biệt, Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 lại do 2 Cty Trung Quốc làm chủ đầu tư; còn nhà máy lớn nhất là Nhiệt điện Vĩnh Tân 3 thì do Cty Cổ phần Năng lượng Vĩnh Tân 3 làm chủ đầu tư, mà Cty này gồm 3 cổ đông, trong đó cổ đông lớn nhất, chiếm 49% cổ phần, là Cty OneEnergy Ventures Ltd. của Trung Quốc.
Đầu tháng 6/2015, gần hai tháng sau khi bài báo được đăng, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã giao EVN thay chủ đầu tư dự án Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 3. (Mặc dù vậy, ngày 18/7/2015, nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1, với hai doanh nghiệp Trung Quốc nắm đến 95% cổ phần, vẫn được khởi công, mở đường cho đội quân phương bắc cắm chốt lâu dài tại khu vực xung yếu này.)
3) Ngày 07/09/2015, VOA đăng bài “Khu nghỉ dưỡng Bãi Chuối – Hải Vân: mưu đồ thâm độc của Trung Quốc?”. Theo bài báo, ngay từ năm 2009 tỉnh Thừa Thiên – Huế đã cấp 100ha đất ở khu vực Bãi Chuối cho Cty TNHH MTV Bãi Chuối để xây dựng khu nghỉ dưỡng. Bãi Chuối thuộc khu vực đèo Hải Vân, một khu vực đặc biệt trọng yếu về an ninh quốc phòng. Tổng giám đốc Cty TNHH MTV Bãi Chuối là người Hoa.
4) Ngày 08/10/2015, VOA đăng bài “Người Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Lăng Cô – Thừa Thiên Huế?”. Bài báo cho biết, ngoài 100ha đất trên đèo Hải Vân, Công ty TNHH MTV Bãi Chuối còn được giao 200ha để thực hiện dự án khu nghỉ dưỡng ở Lăng Cô. Khu vực dự án nằm ngay cạnh bờ biển, cách đường quốc phòng chạy quanh núi Hòn Dòn (nơi có kho vũ khí của Bộ Quốc phòng) khoảng 1km, cách Cảng Chân Mây chừng 4km, cách đèo Phú Gia trên QL 1A hơn 1 km, và cách đèo Hải Vân khoảng 7km.
Điều đáng nói là Cattigara One Ltd., công ty mẹ của Cty TNHH MTV Bãi Chuối, là một công ty ma do Bắc Kinh lập ra ở Singapore rồi lấy pháp nhân Singapore để dễ dàng được giao đất dự án ở những khu vực nhạy cảm về an ninh quốc phòng.
Sau khi hai báo báo trên được đăng, cả hai dự án của “nhà đầu tư” Cattigara One Ltd. đều bị tạm dừng.
5) Ngày 09/12/2015, VOA đăng bài “Hiểm hoạ Trung Quốc ở Bình Định”. Theo bài báo, ngoài ba doanh nghiệp Trung Quốc tại Khu Kinh tế Nhơn Hội, hiểm hoạ “made in China” ở đây còn tiềm ẩn trong một đại dự án dầu khí sắp triển khai. Ngày 2/12/2014, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải quyết định bổ sung Dự án Tổ hợp Lọc hóa dầu Nhơn Hội (Victory) vào Quy hoạch phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến 2015 và định hướng đến 2025. Đây là dự án do Tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT) làm chủ đầu tư, vốn đầu tư giai đoạn 1 lên tới 22 tỷ USD. Theo kế hoạch, dự án được khởi công vào quý I năm 2017 và vận hành quý I năm 2021.
Pailin Chuchottaworn – Chủ tịch kiêm CEO PTT – là một người Thái gốc Hoa, trong khi các tỷ phú người Hoa ở Thái Lan thường liên hệ mật thiết với Bắc Kinh. Đại dự án nằm trên diện tích hàng ngàn ha này hoàn toàn có thể trở thành một Formosa Hà Tĩnh thứ 2 ở địa bàn chiến lược Nam Trung Bộ, bởi việc sang nhượng cổ phần vừa không thể cấm đoán, vừa khó kiểm soát, trong khi PTT chỉ thu xếp được 5/22 tỷ USD tổng vốn đầu tư. Ngoài ra, dự án còn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải – “cha đẻ” của hàng loạt hiểm hoạ Trung Quốc như Formosa Hà Tĩnh, Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân hay 264 ngàn ha rừng đầu nguồn, v.v. – bất chấp những quan ngại của giới chuyên gia về tình trạng “bội thực” các nhà máy lọc dầu cũng như nguy cơ ô nhiễm môi trường và hiệu quả kinh tế thấp của chúng.
Đến cuối tháng 7/2016, UBND tỉnh Bình Định đã quyết định loại bỏ dự án.
6) Ngày 5/4 và 11/4/2016, VOA đăng bài “Chuyện chỉ có ở VN: Dự án nhiệt điện hàng tỷ USD được giao cho một công ty chuyên doanh… mực in!!!” và bài “Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Trung tâm Nhiệt điện Sông Hậu?” Hai bài báo đã vạch trần “nhóm lợi ích Tàu” trong bộ máy đã phù phép để giao một dự án nhiệt điện lên tới 3,5 tỷ USD tại một vị trí nhạy cảm về an ninh quốc phòng cho một công ty chuyên kinh doanh mực in của Malaysia.
Ngày 20/4/2016, trang Quochoi.org và trang Nguyentandung.org đã đăng hai bài (i) Những khuất tất đằng sau dự án Nhiệt điện Sông Hậu 2 (Kỳ 1), và (ii) Bóng ma Trung Quốc trong dự án Nhiệt điện Sông Hậu 2 (Kỳ 2). Cả hai bài này đều bê gần như nguyên xi 2 bài trên VOA của tôi.
Ngày 10/5/2016, tức một tháng sau khi VOA đăng 2 bài điều tra nói trên và được nhiều trang mạng khác đăng lại, Dân Trí đăng bài “Một doanh nghiệp mực in được làm nhà máy điện 2000 MW?”. Bài viết đã lấy một số thông tin từ hai bài trên của tôi. Kể từ đấy, cái tên TOYO INK cùng dự án nhiệt điện Sông Hậu 2 hoàn toàn biến mất trên truyền thông. Dự án coi như đã bị khai tử.
7) Ngày 29/05/2016, VOA đăng bài “Báo động: Người Trung Quốc đã lập căn cứ sát nách Cửa Việt – Quảng Trị”. Bài báo cho biết Trung Quốc lại đang lập một căn cứ khác sát nách cảng Cửa Việt thông qua thủ đoạn núp bóng người Việt để thâu tóm một doanh nghiệp thuỷ sản ở địa phương – đó là Chi nhánh Quảng Trị của Công ty Cổ phần Phát triển Thuỷ sản Huế tại thôn Phú Hội, xã Triệu An, huyện Triệu Phong.
Sau khi bài báo đăng, hoạt động xây dựng của doanh nghiệp Trung Quốc trá hình kia đã bị dừng lại.
8) Ngày 20/07/2016, VOA đăng bài “Vì sao Trung Quốc lại sốt sắng với Dự án Nhiệt điện Kiên Lương?”
Ngày 18/4/2017, tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đồng ý với kiến nghị của tỉnh Kiên Giang về việc thu hồi chủ trương đầu tư dự án nhiệt điện Kiên Lương.
(Nếu có thể kể thêm thì ngày 21/09/2016, VOA còn đăng bài “Hiểm hoạ Trung Quốc trọng dự án thép Cà Nà”. Dự án sau đó đã bị tạm dừng vào tháng 4/2017. Kết quả này là nỗ lực chung của cả cộng đồng; tôi chỉ là người phân tích những hiểm hoạ về mặt an ninh quốc phòng tiềm ẩn trong dự án.)
Tất nhiên, những gì trên đây không phải là toàn bộ âm mưu của Trung Quốc ở Việt Nam. Nhiều âm mưu của họ khi tôi phát hiện ra thì dự án vỏ bọc của nó hoặc đang được thực hiện hoặc thậm chí đã hoàn thành và đi vào hoạt động.
Đó là (i) dự án khu du lịch nghỉ dưỡng và sòng bài rộng đến 30ha trên bãi biển Sơn Trà – Điện Ngọc và ngay trước mặt sân bay quân sự Nước Mặn của Silver Shores, một công ty ma của do Trung Quốc lập ra ở Hồng Kông và mở chi nhánh ma ở Mỹ rồi lấy pháp nhân Mỹ để đầu tư vào Đà Nẵng – bài “Ai đã ‘rước’ một công ty TQ trá hình vào cắm chốt những vị trí hiểm yếu ở Đà Nẵng?” (sau khi bài báo được đăng, chính quyền Đà Nẵng cùng truyền thông nhà nước mới vào cuộc và phát hiện ra người Trung Quốc đã thâu tóm hàng trăm lô đất xung quanh hòng biến khu vực này thành một “China Town”); (ii) ba dự án của Trung Quốc tại Khu Kinh tế Nhơn Hội trong bài “Hiểm hoạ Trung Quốc ở Bình Định”; (iii) dự án Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 2 trong bài “Báo động: Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải sắp trở thành căn cứ của Trung Quốc”; (iv) dự án Nhà máy Giấy Lee&Man Việt Nam trong bài “Nhà máy giấy Lee & Man Việt Nam: một Formosa Hà Tĩnh mới ở đồng bằng sông Cửu Long?”; (v) dự án toà nhà Capital Garden tại 102 Trường Chinh, Hà Nội trong bài “Thêm một âm mưu hiểm độc của tình báo Hoa Nam ở Hà Nội?”; (vi) dự án khu nghỉ dưỡng và sòng bài Hồ Tràm Strip trong bài “Hồ Tràm Strip: hiểm họa Trung Quốc trong một đại dự án mờ ám” (đây là một dự án vô cùng tinh vi, quỷ quyệt – Bắc Kinh đã lập một công ty ma ở Canada rồi lấy pháp nhân Canada để cùng một nhà đầu tư mạo hiểm của Mỹ đầu từ vào Hồ Tràm, một vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng tại Bà Rịa – Vũng Tàu, theo kiểu “hồn Trung Hoa, da Mỹ-Canada”); (vii) dự án xây dựng bến số 3 cảng Chân Mây ở Thừa Thiên – Huế trong bài “Hải cảng chiến lược Chân Mây sắp rơi vào vòng kiểm soát của Trung Quốc?”.
Dĩ nhiên, các ông chủ Trung Nam Hải còn nhiều âm mưu tinh vi quỷ quyệt trên dải đất hình chữ S nữa mà chúng ta chưa phát hiện ra, còn bản thân tôi thì không phải lúc nào cũng có điều kiện tiếp cận hiện trường các dự án.
Việc một số trang mạng nhà nước trá hình sử dụng bài của tôi rồi đăng dưới tên “bạn đọc” là bằng chứng cho thấy trong bộ máy có những tiếng nói “đồng thanh tương ứng” với tôi. Và đó chính là những tiếng nói đã góp phần ngăn chặn những hiểm hoạ “made in Zhongnanhai” sau khi VOA đăng tải các bài viết mang tính cảnh báo kia.

Dù vậy, những gì họ làm được vẫn còn xa mới tương xứng với trách nhiệm của họ hay đòi hỏi của nhân dân. Vì quyền lợi cá nhân ích kỷ của họ mà những hiểm hoạ như Formosa Hà Tĩnh vẫn tiếp tục lơ lửng trên đầu dân tộc, đe doạ sự tồn vong của giống nòi, cho dù “tác giả” của nó cùng hàng loạt hiểm hoạ Trung Quốc khác đã bị tôi vạch trần trong một vụ tố cáo công khai và đúng pháp luật hơn 9 năm qua nhưng đến nay vẫn chưa được nhà chức trách giải quyết đúng pháp luật.

—————————

VNTB – Luật sư Phạm Công Út: “Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015 là điều khoản chết…”

Reply Điều 19 BLHS, fourms, Hàn Giang, Ls Phạm Công Út, news, VNTB 27.6.17
A+A-EMAILPRINT
Hàn Giang (VNTB) Với kết quả biểu quyết là 434/457, tương đương với tỷ lệ số phiếu tán thành là 88,39% trong tổng số phiếu tham gia, vào chiều 20/06/2017 vừa qua, Quốc hội Việt Nam đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2015 (BLHS 2015) trong đó Khoản 3 Điều 19 với nội dung luật sư, người bào chữa pháp lý phải tố cáo khi thân chủ phạm các tội Đặc biệt nghiêm trọng hoặc các tội xâm phạm an ninh quốc gia khiến dư luận quan tâm. Đã có những ý kiến trái chiều, có ý kiến cho rằng đây là một sự đánh đố qua lại và Khoản 3 Điều 19 này sẽ khó áp dụng vào thực tế cuộc sống…

Luật sư Phạm Công Út: “Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015 là điều khoản chết…”
Đây là điều khoản “chết”…!

Nguyên văn nội dung Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015: “Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này”

Có nghĩa là người bào chữa, các luật sư sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự khi biết được thân chủ của mình thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện các hành vi phạm vào các tội Đặc biệt nghiêm trọng hoặc các tội xâm phạm an ninh quốc gia mà không tố cáo cho các cơ quan tiến hành tố tụng biết.

Thực tế việc quy định tố giác tội phạm không hề mới trong các văn bản pháp luật hình sự Việt Nam kể từ BLHS 1985 đến nay, trong khoảng 30 năm này Việt Nam có 2 BLHS đó là BLHS 1985 và BLHS 1999 trong đó có BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung vào năm 2009, hành vi không tố giác tội phạm của người bào chữa được xác định như mọi công dân khác và được điều chỉnh chung trong quy định “người nào”. Tuy nhiên, đối với BLHS 2015 nếu khộng có gì thay đổi đột xuất thì đến ngày 01/01/2018, BLHS 2015 chính thức có hiệu lực áp dụng vào cuộc sống của người dân và xã hội Việt Nam. Đối với hành vi không tố giác tội phạm ở Khoản 3 Điều 19 BLHS đối với người người bào chữa, các luật sư là một điểm mới so với BLHS 1985 và BLHS 1999 vì nó tách biệt giữa “người nào” với “người bào chữa, luật sư” mặc dù cả hai đối tượng đều là công dân. Người bào chữa, luật sư sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự khi biết thân chủ của mình đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thôi, còn các tội phạm ít nghiêm trọng thì không nằm trong phạm vi phải điều chỉnh ở Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015.

Ngay sau khi Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 2015 trong đó Khoản 3 Điều 19. Dư luận đã dấy lên làn sóng tranh luận trái chiều, đông đảo cho rằng nếu người có hành vi phạm tội, cần thuê một luật sư để giúp đỡ pháp lýnhưng sau đó phát hiện hành vi người phạm tội thuộc điều chỉnh ở Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015 thì luật sư lại quay sang tố cáo thêm tội cho thân chủ vậy thuêLuật sư được lợi gì? Rồi đạo đức của người hành nghề luật sư sẽ như thế nào khi quay lại tố cáo thân chủ?

Chia sẻ với Việt Nam Thời Báo (VNTB), luật sư Phạm Công Út ở An Giang cho rằng, Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015 giống như “trò chơi” đánh đố. Luật pháp đánh đố Luật sư và Luật sư đánh đố Luật pháp. Về phía người dân là những thân chủ, khách hàng của Luật sư đơn cử trường hợp nếu Luật sư phát hiện thân chủ của mình là một cái bẫy, là một con mồi dụ mình do mình có những vụ án nhạy cảm, con mồi này dụ mình thì Luật sư sẽ có cách ứng xử thông qua một trường hợp giả định sau:

“Một trường hợp giả định mà tôi đặt ra là có người thứ ba nói: “Luật sư ơi! Tôi đang chuẩn bị giết người, nhờ luật sư bào chữa cho tôi sau khi tôi giết người”, tức là hành vi giết người sẽ xảy ra và sắp sửa xảy ra đang nói về tương lai, hậu quả của hành vi đó xảy ra thì luật sư sẽ chấp nhận hay không chấp nhận? Luật sư phải hiểu đây là con mồi thì luật sư phải có cách từ chối bởi vì Luật sư phải bảo vệ công lý, bảo vệ an nguy của cộng đồng chứ Luật sư không thể nào vì tiền. Tôi thêm một ví dụ nữa, trong vụ án Hoa hậu Phương Nga và đại gia Cao Toàn Mỹ vừa xảy ra, thông qua phương tiện thông tin đại chúng thì có một Luật sư bày vẽ cách tạo ra chứng cứ giả là có hợp đồng mua bán, hợp đồng chuyển nhượng, di chúc…v.v…điều này là không có thật, tức là Luật sư đã tháo ngòi nổ cho một thân chủ nào đó tương lai của mình bằng cách ngụy tạo những chứng cứ giả dối thì Luật sư đó lẽ ra không có nghĩa vụ tố giác tội phạm nhưng cũng không được quyền đồng phạm với họ trong vai trò giúp sức, tạo ra những chứng cứ giả. Như vậy, vào ngày 01/01/2018, Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015 hiệu lực thì Luật sư phải biết cách từ chối, nếu anh không từ chối có khi đây là con mồi dẫn dụ anh tham gia những vụ án nhạy cảm thì anh sẽ chết, bởi vì anh tham gia tư vấn cho họ tìm những cách thoát tội để người đó thực hiện hoàn chỉnh một hành vi, công việc mang xâm hại đến xã hội, xâm hại đến an ninh quốc gia mà Khoản 3 Điều 19 quy định, luật sư phải cẩn thận hơn.”- Chia sẻ của luật sư Phạm Công Út.

Theo luật sư Phạm Công Út, những ví dụ đưa ra trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay không phải chưa xảy ra mà xảy ra rất nhiều nhưng các Cơ quan tiến hành tố tụng có phần ngại va chạm với các Luật sư thành ra chưa dám khởi tố. Nhưng sau ngày 01/01/2018, những Luật sư mà có hành vi “đi đêm”, hướng dẫn, giúp đỡ cho người thực hiện hành vi phạm tội mà quy định phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc xâm phạm an ninh quốc gia làm sao theo kịch bản giúp thoát tội thì luật sư đó trở thành tội phạm.

Tuy vậy, luật sư Phạm Công Út cũng cho rằng Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015 này cũng là điều khoản chết bởi vì khó áp dụng trong cuộc sống do nó có từ “biết rõ”, làm sao người bào chữa, luật sư có thể thừa nhận mình có chứng cứ biết rõ thân chủ của mình phạm vào các tội như trong Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015 đã nêu? Luật sư Út nói:

“Điều khoản chết đó nằm ở chữ “biết rõ” nằm trong Khoản 3 Điều 19 bởi vì có luật sư nào tự nhận là mình “biết rõ” thân chủ của mình đã, đang và sẽ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc xâm phạm an ninh quốc gia đâu. Ví dụ một người nói với luật sư rằng là mình phạm tội giết người và nói vụ này chỉ cần luật sư ra cho có thôi chứ thực tế đã bỏ 1 tỷ đồng ra chạy án hết rồi, đã mua kết quả nào đó. Như vậy 1 tỳ đồng để đưa hối lộ cho người thi hành tố tụng nào đó thì nó thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng như với tình huống này thì luật sư có dám đi tố giác thân chủ của mình hay không? Ở đây nếu luật sư đi tố giác có thể luật sư bị tội vu khống bởi anh không thể nào biết rõ được vụ chạy án bởi anh đâu có thấy người kia đưa tiền để chạy án hay không? Đi tố giác thân chủ rồi bị thân chủ quật ngược lại nên luật sư không thể nào đi tố giác được, điểm chết là ở chổ “biết rõ”. Thế nào là biết rõ ? Biết rõ phải là mắt thấy, tai nghe, chứng cứ phải phù hợp với lại những gì trình bày. Do đó Khoản 3 Điều 19 nó đưa ra hai chữ “biết rõ” như đánh đố luật sư nhưng luật sư sẽ là người đánh đố”

“Điều này, mỗi quốc gia có một hoàn cảnh riêng nếu mà phản đối thì nó là một trò đùa nhưng nếu thông qua thì nó cũng là trò đùa, thực tế Khoản 3 Điều 19 này sẽ là điều khoản chết và nó không thể nào mang tính khả thi áp dụng trong cuộc sống bởi vì nó đã có từ năm 1985.”

Do đó với Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015, theo luật sư Phạm Công Út những người nhờ đến luật sư thì họ nhờ khi nào? Họ nên nhờ những vấn đề gì mà họ bị oan khuất, còn nếu họ chủ động thực hiện một hành vi phạm tội nào đó nếu mà nhờ luật sư thì nên tìm những luật sư gian dối để giúp và đồng hành với họ, thành công hoặc thất bại cùng chịu cùng hưởng với nhau. Còn những luật sư không để mình bị dẫn dụ, không để mình bị những người khác cò mồi thì họ sẽ yên tâm hành nghề luật sư. Do đó, những lời nói đùa sau ngày 01/01/2018, luật sư sẽ chuyển nghề thì luật sư Út nghĩ chỉ số ít thôi chứ luật sư có trăm mưu ngàn kế để mà tồn tại.

Luật sư được cởi trói nhiều hơn trước

Ngoài ra VNTB còn ghi nhận có ý kiến cho rằng Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015 là hạn chế quyền bào chữa của Luật sư, là không có tính nhân đạo hoặc không phù hợp với quy tắc ứng xử văn minh tiến bộ. Luật sư Út cho rằng ông không tán thành ý kiến trên và cho rằng:

“Không. Tôi cho quan điểm nói như vậy là không đúng bởi vì quyền của Luật sư nó quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự, còn chịu trách nhiệm hình sự và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Luật sư vi phạm điều khoản không tố giác tội phạm nó nằm trong Bộ luật hình sự. Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự là 02 Bộ luật khác nhau. Trong Bộ luật tố tụng hình sự có quy định Luật sư có những quyền hạn và có những nghĩa vụ. Bộ luật tố tụng hình sự nó khác với Bộ luật hình sự bởi Bộ luật hình sự nó xem là bộ luật về nội dung còn Bộ luật tố tụng hình sự nó được xem là Bộ luật về hình thức. Luật sư người ta bám theo Bộ luật tố tụng hình sự để làm “kim chỉ nam” cho mình để xác định mình có quyền và nghiã vụ gì?”

“Riêng BLHS 2015 nó đóng khung trong khoản 3 Điều 19 mà như tôi phân tích đây là sự đánh đố giữa 02 bên, Luật sư là người ngồi cười nhạo chứ không phải các Cơ quan Nhà nước hoặc là Quốc Hội ra Điều luật này để cười nhạo giới luật sư. Bởi vì, từ năm 1985 tới nay chưa có một Luật sư nào bị khởi tố về tội không tố giác tội phạm đối với thân chủ của mình mặc dù Điều luật đó có từ năm 1985 tới nay là tất cả mọi công dân phải có nghĩa vụ tố giác tội phạm. Sau đó, người ta sửa đổi bổ sung từ năm 2009 thì loại trừ đi ông, bà, cha, mẹ, những thân thích và luật sư nằm trong khoản 1Điều 19 là những loại tội phạm ít nghiêm trọng. Nay người ta cụ thể hóa hơn là luật sư chỉ tố giác tội phạm đối với các loại tội phạm có tính chất đặc biệt nghiêm trọng hoặc xâm phạm an ninh quốc gia. Những điều ít nghiêm trọng nó là đa số, anh đánh đố người ta còn chưa làm được thì giờ thiểu số anh không làm gì được đối với người ta hết.”.

Kết lời, luật sư Phạm Công Út cho rằng Bộ luật tố tụng hình sự nó cởi trói cho rất nhiều đối với các luật sư về vấn đề: người dân được quyền im lặng cho đến khi có mặt của luật sư, luật sư cũng không phải xin giấy chứng nhận bào chữa mà chỉ cần đăng ký và đăng ký 01 lần từ lúc chưa khởi tố cho tới lúc kết thúc xong trừ trường hợp người đó từ chối luật sư và một số trường hợp đơn lẻ khác như vậy nó cởi trói cho luật sư rất nhiều. Thậm chí Bộ luật tố tụng hình sự hiện nay không cho quyền luật sư tự thu thập chứng cứ nhưng Bộ luật tố tụng hình sự 2015 cho phép luật sư tự mình được cung cấp chứng cứ như vậy là cở trói rất nhiều cho luật sư. Nếu mà nói trói buộc luật sư thì cho rằng suy nghĩ này chưa thật sự quan tâm đến quyền lợi của mình./

——————————–

VNTB – Việt Nam: blogger bị đàn áp, nhà báo bị bẫy lừa!

Reply Hoàng Khương, Kỳ Lâm blogger, Lê Duy Phong, news, nhà báo, opposite, VNTB, Yên Bái27.6.17
A+A-EMAILPRINT
Kỳ Lâm (VNTB) Dù chưa có quyết định khởi tố, tuy nhiên số phận của nhà báo Lê Duy Phong sẽ tiếp tục nối gót nhà báo Hoàng Khương (Tuổi Trẻ) – người vốn bị truy tố và kết án 4 năm tù giam vì loạt bài phản ánh mạnh mẽ thủ đoạn ăn bẩn của CSGT TP. Hồ Chí Minh.

Từ Blogger bị đàn áp

Thực trạng blogger Việt Nam liên tục bị Chính phủ đàn áp nhằm bịt miệng trước những vấn đề mà Chính phủ chưa hoặc không cho phép lên tiếng.

Trong một phóng sự của mình, trang tin Al Jazeera, cho biết, sau năm 1975, ĐCSVN đã kiểm soát tuyệt đối các phương tiện truyền thông, nhưng khi mạng xã hội ra đời, nó đã thách thức sự độc tôn đó. Và đến nay, việc đàn áp, đe dọa, bắt bớ, kỷ luật những blogger đã diễn ra thường xuyên hơn, chỉ tính riêng năm ngoái 18 blogger và nhà hoạt động đã bị bắt giam.

Việt Nam đang chứng kiến sự gia tăng nóng số người sử dụng internet và lượng truy cập mạng xã hội Facebook gắn với điện thoại di động đang ngày càng nhiều lên.

Blogger Nguyễn Văn Hải chia sẻ với Al Jazeera rằng, ở Việt Nam, những câu chuyện như tham nhũng, lạm dụng quyền lực bởi quan chức địa phương hay những cái chết trong đồn công an là các chủ đề bị cấm. Và blogger chính là yếu tố sẵn sàng thông tin những vấn đề như vậy.

Blogger độc lập càng lên tiếng và phản ánh các vấn đề nóng thì Nhà nước lại càng tấn công mạnh mẽ hơn. Và trong năm nay, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam đã có buổi làm việc với đại diện Facebook để đi đến một thỏa thuận “phối hợp hạn chế các tài liệu trái pháp luật”.

Điều đó cho thấy rằng, Nhà nước Việt Nam đã và đang sử dụng mọi biện pháp để ngăn chặn blogger, yếu tố được cho là ảnh hưởng đến quyền lực của Đảng.

Đến nhà báo bị bẫy

Tuần vừa qua, một nhà báo tên Lê Duy Phong (báo Giáo dục) đã bị công an bắt quả tang vì nhận tiền của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

Vấn đề sẽ không có gì đang nói nếu như ông Lê Duy Phong không phải là cây bút điều tra nhiều vụ việc tại Yên Bái, “trong đó có vụ việc liên quan đến giám đốc Công an tỉnh”. Tổng biên tập báo Giáo dục đã phải lên tiếng về sự khách quan khi đề cập đến việc: công an tỉnh lại trực tiếp bắt giữ, điều tra người từng có bài điều tra liên quan đến giám đốc Công an tỉnh.

Sự việc càng rắc rối hơn khi một người cũng ngồi trong bàn nhậu đó bày tỏ rằng, khi ông Lê Duy Phong đang ở Hà Nội thì nhận được một cuộc điện thoại của một người bạn “đồng nghiệp” (đang công tác ở Đài Truyền hình Yên Bái) gọi liên quan đến một doanh nghiệp Yên Bái. Trong cuộc nhậu, thì bạn “đồng nghiệp” liên tục chuốc say ông Lê Duy Phong, trong khi “doanh nghiệp” lại đẩy tiền vào, và ngay khi đó thì công an ập tới “bắt quả tang”.

Tường trình của một người trong buổi nhậu định mệnh của nhà báo Lê Duy Phong
Yên Bái đang là tâm điểm của các vụ việc liên quan đến “đạo đức nô bộc”, trong đó có biệt phủ rộng hàng ngàn m2, và nếu vụ việc này bị báo chí theo đuổi đến cùng thì Bí Thư tỉnh ủy, Giám đốc Sở TN&MT (em Bí thư) và ông Giám đốc CA tỉnh sẽ bị kỷ luật.

Đây có phải là hình thức “bắt người” để thương lượng theo phương cách “rung cây dọa khỉ” không? Điều này chưa biết, nhưng ngay khi bài viết này đang được tiến hành, thì đã có một công văn hỏa tốc can thiệp sự vụ theo hướng “giải cứu nhà báo”, tuy nhiên đã thất bại.

Dù chưa có quyết định khởi tố, tuy nhiên số phận của nhà báo Lê Duy Phong sẽ tiếp tục nối gót nhà báo Hoàng Khương (Tuổi Trẻ) – người vốn bị truy tố và kết án 4 năm tù giam vì loạt bài phản ánh mạnh mẽ thủ đoạn ăn bẩn của CSGT TP. Hồ Chí Minh.

Cựu phóng viên Thanh Niên – nhà báo Nguyễn Hoài Nam trong một chia sẻ trên Facebook đã nhấn mạnh phải cảnh giác khi “chơi” với Công an. Trong đó ông dẫn ra hai trường hai phản ánh sự sai trái của giới công an đều bị tìm cách đặt bẫy bằng tiền. Trong đó, trường hợp của cá nhân ông là vào năm 2012 từ loạt bài điều tra của mình đã khiến, “15 Công an TPHCM phơi áo, trong đó có 2 Trưởng quận, 2 Phó quận, 2 Đội trưởng bị kỷ luật, còn lại 7 bị tước quân tịch khai trừ đảng 1 bị hạ 2 cấp (1 đội truỏng 1 đội phó), 1 đi tù.” Vào năm 2013, ông được “nhiều người lạ mặt gọi điện thoại thiết tha nhờ giúp, nhiều Giám đốc DN muốn nhờ vụ việc và sẽ bồi dưỡng”.

Điều đó cho thấy, nhà báo Việt Nam dù liên tục được trấn an là không có vùng cấm trong phòng chống tham nhũng và tiêu cực của đội ngũ quan chức. Nhưng với việc gài bẫy những phóng viên – nhà báo có các bài viết chống tiêu cực, và áp dụng nhanh chóng hành vi áp dụng truy tố, bắt giam đã cho thấy mức độ đàn áp tự do báo chí và nhà báo ngày càng có thủ đoạn tinh vi hơn.

Kết

Dù ở những vị trí khác nhau, nhưng vai trò của Blogger hay nhà báo là bộ phận tiên phong trong phản ánh các tiêu cực trong xã hội cũng như nạn lạm quyền lực trong cơ chế chính trị. Tuy nhiên, cũng chính vì tính chất “vùng cấm”, khi lợi ích nhóm ăn chia với nhau trong một “cái bình”, khiến cho nhà báo hay blogger phải đổi sự tự do để lấy ngòi bút thẳng. Và sự đàn áp còn nhiều, nhà báo – blogger càng bị tống giam, lại càng cho thấy một xã hội với các giá trị tự do – nhân quyền và sự cân bằng giữa cơ chế quyền lực chính trị – báo chí truyền thông và người dân trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Và bản án dành cho các nhà báo, blogger đấu tranh chống tiêu cực sẽ là những bản án “bất công và đáng hổ thẹn”.

——————————–

VNTB- Việt Nam chìm trong nợ công, có thể gây bất ổn xã hội

Reply có thể gây bất ổn xã hội, news, opposite, Phạm Chí Dũng, Việt Nam chìm trong nợ công,VNTB26.6.17
A+A-EMAILPRINT
Phạm Chí Dũng

Người Việt

Nợ công Việt Nam đã chẳng hề được cải thiện nguy biến sóng thần của nó sau kỳ họp Quốc Hội Tháng Năm-Sáu, 2017, khi đảng tràn đầy quyết tâm “tự chuyển hóa” bất ổn chính trị thành bất ổn xã hội.
Quyết tâm “tống khứ doanh nghiệp nhà nước”
Chỉ vào những ngày cuối cùng của kỳ họp trên, một quan chức mang trọng trách an nguy nhất về vay nợ là Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Đinh Tiến Dũng mới đề cập về những lý do tại sao không nên đưa nợ tự vay tự trả của khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vào nợ công: theo hướng dẫn Ngân Hàng Thế Giới (WB), chỉ tính nợ tự vay tự trả vào nợ công nếu thỏa mãn 3 điều kiện đồng thời: Chính phủ sở hữu 50% vốn tại doanh nghiệp, hoạt động thu chi của doanh nghiệp được tính trong dự toán thu chi hàng năm, và chính phủ cam kết trả nợ thay nếu chủ thể đi vay không thể trả được nợ.
Ngoài ra, trên thế giới hiện nay, khảo sát hơn 40 nước thì hầu hết là không tính nợ của DNNN vào nợ công, chỉ có 3 nước.
Cần lưu ý rằng trước đó, chưa bao giờ một quan chức hay một cơ quan chức năng nào của Việt Nam “phát hiện” ra 3 tiêu chí trên. Trước đó nhiều năm, đặc biệt là từ năm 2011 khi tình hình kinh tế Việt Nam bắt đầu trở nên be bét và nợ đã chất thành núi, nhiều chuyên gia phản biện độc lập đã tính toán một cách cẩn thận về nợ công của Việt Nam và đưa ra những con số vượt hẳn số báo cáo của chính phủ thời đó của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, đồng thời yêu cầu Việt Nam phải tính nợ của DNNN vào nợ công theo đúng tiêu chí của Liên Hiệp Quốc.
Vào năm 2011, nợ công quốc gia đã được chính phủ Nguyễn Tấn Dũng “ra lệnh” chỉ nằm vào khoảng 55% GDP. Lý do hết sức dễ hiểu là nếu tống nợ vay nước ngoài của các tập đoàn, DNNN vào phạm trù nợ công quốc gia, nợ công sẽ vọt lên ít nhất 200% GDP ngay tại thời điểm năm 2011 – lúc tỷ lệ lạm phát trên báo cáo đã xấp xỉ 20%, còn chính phủ bắt buộc phải ban hành nghị quyết về “thắt lưng buộc bụng” sau một thời gian dài “đầu tư liên tục, đầu tư ồ ạt cho đến lúc sụp đổ” như một triết lý cảnh báo của chuyên gia phương Tây đối với trường hợp Trung Quốc và Việt Nam.
Nhưng cho đến nay, “người thừa kế” của ông Nguyễn Tấn Dũng là Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc vẫn chưa vượt thoát khỏi bức tường kiên cố giả tạo của các bộ ngành đảm trách việc vay và trả nợ. Số báo cáo về nợ công của chính phủ hiện thời vẫn chỉ “sát ngưỡng nguy hiểm,” tức sát mức 65% GDP, cho dù vào đầu năm 2017, Thủ tướng Phúc đã buột ra một đánh giá xuất thần: “nợ công nếu tính đủ thì đã vượt trần.”
Không những vượt trần mà còn vượt xa!
Một phân tích mới nhất của Tiến Sĩ Vũ Quang Việt vào đầu năm 2017 ngay trên một tờ báo nhà nước là Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn đã cho biết nợ của 3,200 doanh nghiệp nhà nước theo điều tra của Tổng Cục Thống Kê năm 2014 là 4.9 triệu tỷ đồng ($231 tỷ), gấp nhiều lần con số 1.5 triệu tỷ đồng mà Bộ Tài Chính đưa ra chỉ cho một số tập đoàn và công ty lớn. Ước tính thêm cho thấy năm 2016, nợ của doanh nghiệp nhà nước là $324 tỷ, bằng 158% GDP.
Như vậy, cộng cả nợ chính phủ và nợ doanh nghiệp nhà nước sau khi trừ đi phần chính phủ bảo lãnh trùng lặp, tổng số nợ năm 2016 là $431 tỷ, lên đến 210% GDP.
Trước đây và đặc biệt dưới thời của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, việc chính phủ bảo lãnh cho tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vay vốn của nước ngoài diễn ra tràn lan và vô tội vạ. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, có ít nhất 30% số doanh nghiệp nhà nước luôn phải đối mặt với nguy cơ phá sản.
Chẳng hạn với 12 tập đoàn nhà nước đã lỗ 218 nghìn tỷ đồng, chiếm 8.76% tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng, trong đó có 4 tập đoàn nợ lớn nhất là PetroVietnam (72,300 tỷ), EVN (62,800 tỷ), Vinacomin (20,500 tỷ) và Vinashin (19,600 tỷ). Cả 4 tập đoàn này đều nằm trong những DNNN được chính phủ bảo lãnh để “phát triển kinh tế.”
“Phán quyết” mới nhất của chính phủ là cơ quan này sẽ bảo lãnh cho doanh nghiệp nhà nước vay nợ nước ngoài chỉ đúng $1 tỷ trong năm 2017, giảm mạnh so với mức bảo lãnh $2.5 tỷ trong năm 2015 và $1.5 tỷ trong năm 2016.
Hẳn nhiên đây là tình thế tất yếu bởi ngân sách quốc gia hiện thời là cực kỳ eo hẹp, thu không đủ chi và hàng năm còn phải trả nợ nước ngoài hàng chục tỷ đô la.
Nếu phải lo cả “nợ riêng” của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước, chính phủ sẽ rất dễ chết chìm trong biển nợ công.
Việt Nam chìm trong nợ công, có thể gây bất ổn xã hội
Nền kinh tế của Việt Nam hiện phần lớn dựa vào giá nhân công rẻ mạt. (Hình: Getty Images)
Hiện tượng lạ: “không tính nợ Ngân hàng nhà nước vào nợ công?”
Trong phần giải trình trước Quốc Hội về Luật Nợ Công, một hiện tượng lạ đã xảy ra: không phải thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN), mà lại là Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Đinh Tiến Dũng đã lần đầu tiên đề cập đến một câu chuyện rất “nhạy cảm”: với các khoản nợ của NHNN vay để thực hiện chính sách tiền tệ thì không tính vào nợ công, vì NHNN thực hiện vai trò của Ngân Hàng Trung Ương thực thi chính sách tiền tệ đảm bảo giá trị đồng tiền, cán cân thanh toán, trong đó có việc phát hành các công cụ nợ có kỳ hạn dưới 12 tháng.
Một lý do nữa được ông Đinh Tiến Dũng nêu ra là theo thông lệ quốc tế, phần lớn các nước ngân hàng trung ương là ngân hàng độc lập, thống đốc không phải thành viên của chính phủ, còn ở Việt Nam thì NHNN là đơn vị thuộc chính phủ, còn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ… Tuy nhiên với vai trò quản lý nhà nước thì NHNN không có chức năng huy động vốn cho chính phủ nên hoạt động huy động vốn của NHNN không thuộc nợ công.
Những dấu hỏi lập tức bật ra: các khoản nợ của NHNN vay để “thực hiện chính sách tiền tệ” là gì? Vì sao từ trước tới nay chưa bao giờ NHNN báo cáo những khoản nợ này cho Quốc Hội để được công khai minh bạch trước cử tri?
Một khi thời Thống Đốc NHNN Nguyễn Văn Bình đã quá tai tiếng về nhiều hậu quả điều hành thị trường vàng, ngoại tệ, đặc biệt là để lại một núi nợ xấu khổng lồ lên đến 1.2 triệu tỷ đồng, chiếm đến 40% trong tổng dư nợ cho vay hơn 3 triệu tỷ đồng vào thời điểm năm 2011, có quá nhiều nghi ngờ về chuyện vay nợ để “thực hiện chính sách tiền tệ” là “treo đầu dê bán thịt chó” và nhằm trục lợi.
Một mâu thuẫn lớn cũng tiếp theo giải trình của ông Đinh Tiến Dũng: nếu loại nợ NHNN khỏi nợ công, tức coi NHNN là một DNNN. Vậy NHNN có còn là cơ quan quản lý, hay “vừa đá bóng vừa thổi còi?”
Trong thực tế, NHNN phải chịu trách nhiệm về nhiều khoản nợ xấu của nhiều DNNN. Nếu các doanh nghiệp đó không trả được thì NHNN phải trả, mà NHNN lại là cơ quan quản lý, không ai có trách nhiệm trả. Như vậy chẳng lẽ NHNN sẽ phá sản? Mà phá sản thì lấy ai “điều hành chính sách tiền tệ?”
Biến bất ổn chính trị thành bất ổn xã hội
Chính điều kiện “Chính phủ sở hữu 50% vốn tại doanh nghiệp” mà Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Đinh Tiến Dũng nại ra để thuyết phục “không nên đưa nợ tự vay tự trả của DNNN vào nợ công” đã thật bất ổn: trong khi hầu hết DNNN có nguồn gốc từ vốn nhà nước, tại sao không đưa núi nợ của những DNNN đó vào nợ công khi chính phủ và các bộ ngành vẫn chưa hề công bố một báo cáo phân tích rạch ròi nào về chuyện bao nhiêu DNNN do chính phủ sở hữu trên 50% vốn và bao nhiêu dưới 50%, tổng giá trị các loại nợ tự vay tự trả và nợ do chính phủ bảo lãnh vay là bao nhiêu…?
Cái cách cố tình loại nợ của DNNN và NHNN khỏi nợ công để chính quyền tạm tránh được bất ổn chính trị, vẫn tạm thời bảo đảm việc chi thường xuyên lương thưởng cho đội ngũ gần 3 triệu công chức viên chức với ít nhất 30% trong số đó bị dư luận coi là “không làm gì cả,” đang đẩy bất ổn xã hội cho xã hội, nhất là rất nhiều người nghèo chẳng hiểu sao họ và các đời con cháu họ phải gánh một món nợ khủng khiếp từ trên trời rơi xuống.
Một khi chính phủ gần như phủi tay trước nhiều món nợ vay nước ngoài của các tập đoàn và DNNN, ngay trong năm 2017 sẽ xuất hiện những cái tên DNNN bắt buộc phải phá sản, thậm chí còn phải đối mặt với vòng lao lý.
Và sẽ ập đến cả một phong trào “bắt DNNN,” đi đôi với chiến dịch “bắt ngân hàng” đã, đang và sẽ gây náo loạn. Nạn thất nghiệp ở Việt Nam, vốn đã có thể lên đến 20% chứ không hải chỉ hơn 2% như số báo cáo của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội, sẽ càng ghê gớm hơn.
Thất nghiệp lại phần nào tiếp sức cho tệ nạn xã hội và rối loạn xã hội. Từ đó sẽ dẫn đến bất ổn chính trị.

Phương châm “tống khứ nợ DNNN” của chính phủ và Quốc Hội đã chẳng hề giải quyết được bất kỳ một nội dung thực chất nào. Tất cả nguy biến vẫn còn treo nguyên đó, chỉ chờ bùng phát.

Print Friendly, PDF & Email

1 thought on “Bản tin Việt Nam Thời Báo ngày 27/6/2017

Leave a Reply

Your email address will not be published.

Name

Time limit is exhausted. Please reload the CAPTCHA.